DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG
Trở lại   DaNang Forum > LIÊN MỤC: CÁC CÂU LẠC BỘ > KINH DOANH & ĐẦU TƯ > Xây dựng thương hiệu

Xây dựng thương hiệu Đầu tư cho thương hiệu: Sở hữu trí tuệ, ISO, Mã vạch...

Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 11-12-2012, 01:43 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

THUẬT NGỮ THƯƠNG HIỆU
(TỔNG HỢP VÀ SƯU TẦM)
DANH MỤC:

1. Brand Personality: Cá tính thương hiệu
2. Product Life Cycle: Vòng đời sản phẩm
3. Brand Extension: Mở rộng thương hiệu
4. Target Marketing: Marketing mục tiêu
5. Brand Awareness : Độ nhận biết thương hiệu
6. Ambient Advertising: Quảng cáo tại môi trường sống xung quanh
7. Brand Architecture: Kiến trúc thương hiệu
8. Marketing mix: Phối thức tiếp thị
9. Franchise: Nhượng quyền thương hiệu
10. USP – Unique Selling Point: Lợi điểm bán hàng độc nhất
11. Target Marketing: Marketing mục tiêu
12. Brand Awareness : Độ nhận biết thương hiệu
13. Ambient Advertising: Quảng cáo tại môi trường sống xung quanh
14. Brand Culture - Văn hóa thương hiệu
15. Brand Experience: Trải nghiệm thương hiệu
16. Brand Promise : Lời hứa thương hiệu
17. Brand Value: Giá trị thương hiệu
18. Brand Positioning: Định vị thương hiệu
19. Slogan : Khẩu hiệu thương mại
20. Relationship Marketing : Marketing mối quan hệ
21. Segmentation : Phân khúc thị trường
22. Brand Identity : Hệ thống nhận diện thương hiệu
23. Repositioning : Tái định vị thương hiệu
24. Brand Equity: Tài sản thương hiệu
25. Branding: Xây dựng thương hiệu
26. Brand Essence: Tinh chất thương hiệu
27. Brand befefits: Lợi ích thương hiệu
28. Naming: Đặt tên thương hiệu
29. Brand: Thương hiệu

CHI TIẾT:

1. Brand Personality: Cá tính thương hiệu


Cá tính thương hiệu là cách mà thương hiệu thể hiện qua cách tuyên ngôn cũng như hành động. Điều này có nghĩa là việc truyền tải cá tính của con người vào một thương hiệu nhằm để tạo sự khác biệt.

Cá tính thương hiệu được thể hiện qua hành vi của mỗi nhân viên cũng như các hình ảnh thương hiệu xuất hiện trong các quảng cáo, bao bì, vật phẩm tiếp thị… Khi hình ảnh thương hiệu hay chân dung thương hiệu được thể hiện dưới dạng “tính cách” của con người thì chúng ta gọi đó là “cá tính thương hiệu”. Ví dụ như khi Bạn gặp một doanh nhân đi xe hơi Mercedes thì bạn có thể cảm nhận được sự thành đạt…

Cá tính thương hiệu chính là “tính người” trong một thương hiệu. Cá tính thương hiệu được hình thành qua một quá trình trải nghiệm lâu dài của khách hàng với thương hiệu. Cá tính tạo nên sự khác biệt và là đặc tính này sẽ tồn tại lâu dài.

Cá tính thương hiệu và hình ảnh thương hiệu là 2 khái niệm khác nhau. Trong khi hình ảnh thương hiệu dùng để ám chỉ về yếu tố hữu hình như hình thức, đặc tính hay lợi ích thì cá tính thương hiệu chính là yếu tố cảm xúc của thương hiệu.

Cá tính thương hiệu đóng góp rất lớn trong việc tạo dựng tài sản thương hiệu. Cá tính thương hiệu chính là tiền đề trong việc đưa ra các ý tưởng thiết kế, sáng tạo và truyền thông thương hiệu. Điều này giúp khách hàng cảm nhận được sự khác nhau của 2 thương hiệu ngay cả khi chúng có nhiều đặc điểm giống nhau và hoạt động trong cùng một lĩnh vực. Ví dụ như khi bạn xem quảng cáo của Pepsi và Coke thì có thể nhận thấy được Pepsi dường như trẻ trung hơn, sành điệu hơn còn Coke là thức uống giúp mọi người sảng khoái, vui vẻ và hạnh phúc.

Cá tính thương hiệu và các ngôi sao thường có mối quan hệ bổ trợ cho nhau. Mỗi thương hiệu có một cá tính riêng và điều này giúp tạo ra sự khác biệt của thương hiệu cũng như sức mạnh của thương hiệu. Đại sứ thương hiệu phải có cá tính tương đồng với thương hiệu. Ví dụ, thương hiệu Pepsi có cá tính năng động, trẻ trung, thời trang… nên việc chọn Britney Spear hay các ngôi sao có cá tính tương tự là hoàn toàn phù hợp. Singapore Airline là thương hiệu của sự ân cần, chăm sóc và thân thiện… nên họ đã chọn lựa hình ảnh những cô gái Singapore dịu dàng đằm thắm luôn quan tâm và giúp đỡ mọi người. Dù hình ảnh cô gái là đại sứ thương hiệu cho Singapore không phải là ngôi sao hay người nổi tiếng nhưng sự phù hợp về cá tính thương hiệu đã mang lại hiệu quả vô cùng lớn.

thay đổi nội dung bởi: BNN, 11-12-2012 lúc 02:30 AM
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #2  
Cũ 11-12-2012, 01:46 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

2. Product Life Cycle: Vòng đời sản phẩm

Khái niệm vòng đời giúp cho các nhà tiếp thị xác định các giai đoạn khác nhau của sản phẩm qua sự thay đổi của doanh số và lợi nhuận. Có 4 giai đoạn trong vòng đời sản phẩm là: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy tàn.

Giới thiệu: Doanh số ở mức thấp khi mà sản phẩm vẫn chưa được nhiều người biết đến, Chi phí cao do phải đầu tư nhiều vào các hoạt động tiếp thị quảng bá để tạo sự nhận biết. Mọi nổ lực của doanh nghiệp ở giai đoạn này tập trung vào phát triển hệ thống phân phối và truyền thông.

Phát triển: Giai đoạn này thị trường đã chấp nhận sản phẩm và lợi nhuận gia tăng mạnh. Các đối thủ cạnh tranh bắt đầu thâm nhập thị trường. Doanh nghiệp thường tập trung vào việc gia tăng sự hiện diện của sản phẩm.

Chín muồi: Doanh số có xu hướng đi ngang và thị trường bắt đầu bão hòa. Lợi nhuận đi ngang hoặc có thể giảm sút do doanh nghiệp gia tăng chi phí tiếp thị để duy trì vị thế và thị phần trước áp lực cạnh tranh gay gắt của các đối thủ.

Suy tàn: Doanh số lao dốc và lợi nhuận giảm sút mạnh. Để cải thiện tình hình thì doanh nghiệp có thể giới thiệu sản phẩm mới hoặc bán sản phẩm đến các thị trường mới.



Mô hình vòng đời sản phẩm rất hữu ích cho doanh nghiệp trong việc phát triển chiến lược phù hợp cho các giai đoạn khác nhau của sản phẩm. Tuy nhiên, khái niệm này cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào các tiên đoán sai lầm. Thực tế thì không phải sản phẩm nào hoặc thương hiệu nào cũng vòng đời sản phẩm hình chữ S. Một số sản phẩm trào lưu nhất thời sẽ biến mất ngay sau giai đoạn giới thiệu (sản phẩm đồ chơi giáng sinh chẳng hạn…), trong khi một số sản phẩm khác thì trường tồn qua thời gian.



Làm thế nào để một sản phẩm có thể trường tồn qua thời gian? Lời gian đáp chính là chiến lược mà doanh nghiệp sử dụng khi sản phẩm ở giai đoạn chín muồi (giai đoạn 3 của vòng đời sản phẩm). Khi sản phẩm hay thương hiệu đã trở nên phổ biến thì cần phải cải tiến hay làm mới để chúng luôn phù hợp với những thay đổi của người tiêu dùng. Hay nói một cách khác các nhà tiếp thị cần tái định vị thương hiệu hay sản phẩm để kéo dài vòng đời khi sản phẩm đang ở giai đoạn chín muồi.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Cũ 11-12-2012, 01:47 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

3. Brand Extension: Mở rộng thương hiệu

Mở rộng thương hiệu là việc tận dụng sức mạnh của thương hiệu trong việc mở rộng sản phẩm, mở rộng thị trường hoặc mở rộng sang ngành khác.Doanh nghiệp có thể thúc đẩy sản phẩm của thương hiệu mình tới những thị trường mới để tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận sản xuất và nâng cao danh tiếng cho mình.

Doanh nghiệp nào sau khi có được một thương hiệu nổi tiếng cũng muốn phát triển thương hiệu của mình bằng cách mở rộng thêm các dòng sản phẩm mới, để tăng sự đa dạng và được nhiều người người tiêu dùng biết đến. Tuy nhiên, trong chiến lược mở rộng thương hiệu, không ít các doanh nghiệp đã bị thất bại vì mắc phải những sai lầm. Đó là do thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm trong việc tung ra sản phẩm mới không phù hợp với sản phẩm chính.Ví dụ, tại các siêu thị lớn ở Mỹ, hiện có tới 45 loại sản phẩm cà phê khác nhau của Hãng Folgers, nước tăng lực Gatorade có 23 loại hương vị, mù tạt Grey Poupon có 7 loại sản phẩm khác nhau và Kellogg có đến 50 loại ngũ cốc ăn sáng. Tương tự, mức độ phức tạp trong cấu trúc thương hiệu của nhóm sản phẩm chăm sóc cá nhân như thương hiệu Dove của Unilever cũng ngày một tăng lên.

Phương thức này có thực sự tạo ra lợi nhuận? Doanh thu của hãng Coca-Cola phần nào hé lộ cho chúng ta thấy được câu trả lời. Tại Mỹ, Hãng Coca-Cola cung cấp 14 loại sản phẩm đồ uống khác nhau trên các giá hàng tại các siêu thị, trong đó có ít nhất 10 sản phẩm nổi tiếng chỉ chiếm 4% tổng doanh thu.

Dù vậy, có những lý do hợp lý để giải thích vì sao Coca-Cola và nhiều thương hiệu khác vẫn đưa ra các dòng sản phẩm quá rộng như vậy, bất chấp việc hiệu quả thu về có vẻ không mấy cân xứng với những nỗ lực bỏ ra. Lý do chủ yếu ở đây là vì cuộc chiến tranh giành không gian trưng bày trên giá hàng tại các siêu thị. Quan trọng hơn, đó cũng chính là cuộc chiến giành lấy sự nhận biết trong tâm trí khách hàng.

Để giới thiệu tất cả các sản phẩm khác nhau của một thương hiệu, các nhà bán lẻ thường dành riêng một mặt ngăn trên giá bán hàng, thường được gọi là mặt “trưng bày” cho mỗi loại sản phẩm. Ở các gian hàng chật cứng tại nhiều trung tâm siêu thị, các thương hiệu cạnh tranh được đặt san sát gần nhau, thì việc làm sao để giành được vị thế trưng bày nổi bật trên các giá hàng chính là mục tiêu cốt yếu. Sản phẩm của một thương hiệu càng đa dạng bao nhiêu thì ấn tượng thương hiệu tổng thể tạo được nhờ các ngăn trưng bày mặt tiền càng hiệu quả bấy nhiêu khi khách hàng lướt qua các quầy trưng bày hàng để tìm mua sản phẩm.

Đương nhiên, đối với thương hiệu thì việc trưng bày được nhiều hàng hóa như vậy là quá tốt, song với hầu hết khách hàng tìm mua những sản phẩm phổ biến và thông dụng nhất thì lại không được thuận tiện lắm. Đó là bởi vì khi các loại sản phẩm phổ biến nhất được xếp trên một mặt giá trưng bày hàng, chúng thường được tiêu thụ rất nhanh trước khi nhân viên siêu thị kịp quay lại để bổ sung thêm hàng. Điều này kéo theo một lượng hàng hóa bị lỡ dịp tiêu thụ và ảnh hưởng không tốt lắm tới kết quả doanh thu cuối cùng.

Bên cạnh đó, dù tạo được ưu thế về mặt hình ảnh trên giá hàng, chưa hẳn sự đa dạng của sản phẩm sẽ tạo được lợi thế cho hình ảnh của thương hiệu. Hình ảnh thương hiệu phụ thuộc rất nhiều vào mức độ mở rộng của thương hiệu đến đâu khi tạo ra tất cả những sản phẩm đa dạng khác nhau và liệu việc mở rộng thương hiệu có khiến cho các đặc tính cơ bản tạo nên sự khác biệt cho thương hiệu bị lu mờ trong hàng loạt sản phẩm như vậy hay không.

Một số thương hiệu nhận ra được điều này chỉ sau khi đã nếm mùi thất bại. Tại Mỹ, Hãng Procter & Gamble đưa ra 46 sản phẩm kem đánh răng khác nhau dưới cùng tên thương hiệu Crest. Điều này dẫn đến việc ra đời những sản phẩm với tên gọi dài loằng ngoằng kiểu như “Kem đánh răng Crest với công thức độc đáo làm trắng răng nhẹ nhàng với sức mạnh làm chắc và bảo vệ răng tối đa” (Crest Maximum Strength Sensitivity Original Formula Soothing Whitening Paste).

Kết quả là, 3 năm trước, kem đánh răng Crest đã để tuột mất vị trí dẫn đầu về tay Colgate và loại sản phẩm duy nhất mang tên gọi đơn giản là “Colgate Total” (Colgate Tổng hợp) – chỉ trong một sản phẩm đã bao hàm hầu hết mọi đặc tính mà Crest tập trung nhấn mạnh cho từng sản phẩm đơn lẻ trong dòng sản phẩm kem đánh răng Crest.

Hãy lưu ý rằng, các yếu tố liên quan đến việc trưng bày sản phẩm khi tiến hành mở rộng thương hiệu không áp dụng đối với những sản phẩm được giới thiệu trên một thị trường đang phát triển vô cùng mạnh mẽ – đó là mạng Internet, nơi mà không gian trưng bày sản phẩm là không hạn chế. Loại phương tiện này ngày càng có sức ảnh hưởng lớn hơn trong việc giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng, thông thường là tới các khách hàng tiêu dùng sử dụng Internet chỉ để tìm kiếm thông tin trước khi mua sắm thực tế.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Cũ 11-12-2012, 01:50 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

4. Target Marketing: Marketing mục tiêu

Marketing mục tiêu là việc phát triển phối thức tiếp thị riêng cho một hoặc nhiều phân khúc thị trường. Marketing mục tiêu trái ngược với marketing đại trà, là hình thức tiếp thị một sản phẩm cho toàn bộ thị trường.

Hai điểm quan trọng khi lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu là độ hấp dẫn của thị trường và mức độ phù hợp của phân khúc với mục tiêu, nguồn lực hay năng lực của công ty.

Sự hấp dẫn của phân khúc thị trường mục tiêu

Một số tiêu chí để đo mức độ hấp dẫn của một phân khúc thị trường là:

- Độ lớn của phân khúc (số lượng khách hàng hay số lượng sản phẩm tiêu thụ)
- Mức độ tăng trưởng của phân khúc.
- Mức độ cạnh tranh trong phân khúc.
- Mức độ trung thành thương hiệu trong phân khúc.
- Mức chi phí tiếp thị ước tính để thâm nhập phân khúc
- Tỉ lệ thị phần cần thiết để đạt điểm điểm hòa vốn.
- Tiềm năng bán hàng tại phân khúc này
- Tỉ lệ lợi nhuận biên kỳ vọng tại phân khúc này.

Nghiên cứu thị trường là phương pháp để thu thập được các loại thông tin này. Ví dụ, thông qua việc thấu hiểu được ý định mua sắm, số lượng sản phẩm tiêu dùng, cách thức mua sản phẩm hay thời điểm mua sản phẩm… thì doanh nghiệp có thể ước lượng được tiềm năng thị trường cũng như doanh số kỳ vọng của công ty.



Có một điểm lưu ý là độ lớn của phân khúc thị trường, có nhiều phân khúc lớn không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn khi thâm nhập. Thông thường các phân khúc thị trường lớn thì sẽ có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, mức độ cạnh tranh về giá sẽ lớn dẫn đến tỉ lệ lợi nhuận biên trên đơn vị sản phẩm sẽ không cao. Vì vậy, doanh nghiệp nên chọn phân khúc nhỏ với mức độ lợi nhuận cao hơn.

Sự phù hợp của phân khúc thị trường với doanh nghiệp

Một phân khúc thị trường hiệu quả còn được đánh giá qua mức độ phù hợp của phân khúc với những mục tiêu, chiến lược hay nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp. Một số khía cạnh dùng để đánh giá như:

- Liệu doanh nghiệp có thể mang đến các sản phẩm vượt trội trong phân khúc này.
- Liệu khi phục vụ phân khúc này có ảnh hưởng gì tới hình ảnh của toàn doanh nghiệp.
- Liệu có cần phải thiết lập kênh phân phối mới cho phân khúc này.
- Liệu nguồn vật lực và tài lực của doanh nghiệp có đảm bảo cho việc thâm nhập phân khúc này.
- Một phân khúc càng phù hợp với công ty, có mức độ hấp dẫn thị trường cao thì sẽ hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.

Các chiến lược lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu

Có nhiều chiến lược lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu khác nhau. Doanh nghiệp có thể tham khảo các chiến lược sau:

Một phân khúc thị trường (Single Segment): chỉ hoạt động trong một phân khúc thị trường duy nhất bằng một phối thức tiếp thị duy nhất. Chiến lược này thường phù hợp cho các công ty nhỏ có nguồn lực hạn hẹp.

Một số phân khúc chọn lọc (Selective Specialization): chọn lọc một số phân khúc thị trường để hoạt động, các phương pháp phối thức tiếp thị khác nhau sẽ được sử dụng cho các phân khúc thị trường khác nhau. Về mặt sản phẩm thì có thể giống nhau hoàn toàn hoặc khác nhau chút ít, trong một số trường hợp chỉ có kênh phân phối và thông điệp tiếp thị là khác nhau.

Chuyên môn hóa sản phẩm (product specialiation): doanh nghiệp chỉ tập trung vào một sản phẩm duy nhất và hiệu chỉnh tính năng cho phù hợp từng phân khúc thị trường mục tiêu.

Chuyên môn hóa thị trường (market specialiation): doanh nghiệp chỉ tập trung vào một thị trường mục tiêu duy nhất và phát triển nhiều sản phẩm khác nhau để phục vụ.

Bao phủ toàn thị trường (Full market coverage): doanh nghiệp hướng đến việc phục vụ toàn thị trường. Chiến lược này có thể sử dụng qua việc sử dụng một chiến lược marketing cho toàn bộ thị trường (marketing đại trà) hoặc phối thức tiếp thị khác nhau cho từng phân khúc thị trường.

Dưới đây là biểu đồ minh họa 5 chiến lược lựa chọn thị trường mục tiêu thông qua việc phân chia ra 3 phân khúc thị trường S1, S2, S3 và 3 sản phẩm P1, P2, P3.



Khi gia nhập một phân khúc thị trường, doanh nghiệp nên ưu tiên lựa chọn phân khúc nào hấp dẫn và phù hợp với năng lực của mình nhất. Khi đã có chỗ đứng trên thị trường, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường bằng cách áp dụng chiến lược tập trung sản phẩm (Product specialization) qua việc cung ứng sản phẩm có tính năng khác nhau đáp ứng các phân khúc khác nhau, hoặc sử dụng chiến lược tập trung vào thị trường bằng việc cung ứng nhiều sản phẩm khác nhau cho cùng một thị trường.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #5  
Cũ 11-12-2012, 01:51 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

5. Brand Awareness : Độ nhận biết thương hiệu

Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình tiến trình mua sắm và là một tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu. Một thương hiệu có độ nhận biết càng cào thì càng nổi tiếng và có cơ hội cao hơn được khách hàng lựa chọn.

Độ nhận biết thương hiệu được tạo nên do các hoạt động truyền thông của doanh nghiệp như: quảng cáo, PR, sự kiện, tài trợ, kích hoạt thương hiệu... Vì vậy, việc quảng bá thương hiệu cũng rất tốn kém nên việc hiểu rõ được mức độ ảnh hưởng của sự nhận biết đến tiến trình lựa chọn sản phẩm sẽ giúp cho các doanh nghiệp có được các thức xây dựng thương hiệu đạt hiệu quả cao với một chi phí hợp lý hơn.

Mức độ nhận biết thương hiệu có thể chia ra làm 3 cấp độ khác nhau. Cấp độ cao nhất chính là thương hiệu được nhận biết đầu tiên (Top of mind). Cấp độ kế tiếp là không nhắc mà nhớ (spontaneous). Cấp độ thấp nhất là nhắc để nhớ (Promt). Khi cộng gộp 3 cấp độ nhận biết thương hiệu thì ta sẽ là tổng số nhận biết nhãn hiệu.

Thương hiệu được nhận biết đầu tiên chính là thương hiệu mà khách hàng sẽ nghĩ đến đầu tiên khi được hỏi về một loại sản phẩm nào đó. Ví dụ, khi nghĩ đến tivi thì người Việt Nam thường nghĩ đến Sony đầu tiên, tương tự khi nói đến xe gắn máy thì mọi người thường nghĩ ngay đến Honda, về mạng điện thoại di động thì có thể nghĩ đến Mobifone, sữa tươi thì nghĩ đến Vinamilk... Và kết quả là Sony và Honda và các nhãn hiệu có độ nhận biết đầu tiên cao luôn là những thương hiệu được mọi người cân nhắc khi chọn lựa mua sản phẩm. Với những loại sản phẩm hay dịch vụ mà người tiêu dùng lên kế hoạch mua sắm trước khi đến nơi bán hàng thì tiêu chí thương hiệu nhận biết đầu tiên đóng vai trò rất quan trọng. Điều này được lý giải là đối với những sản phẩm đắt tiền thì người ta thường luôn lên kế hoạch cho việc mua sắm, vì vậy mà thường người mua đã lựa chọn thương hiệu mà mình sẽ mua từ trước, và thường thì thương hiệu mà họ nghĩ đến đầu tiên sẽ rất dễ được người mua chọn lựa. Một số ví dụ về sản phẩm thuộc chủng loại này như Tivi, xe máy, máy tính, điện thoại…

Thông thường khi một thương hiệu có độ nhận biết đầu tiên lớn hơn 50% thi hầu như rất khó có thể nâng cao chỉ số này. Chính vì vậy, để cải thiện chỉ số này thì đòi hỏi phải quá nhiều chi phí trong khi hiệu quả thì không được bao nhiêu nên nhiệm vụ của doanh nghiệp là nên duy trì mức độ nhận biết ở mức độ này.

Đối với các sản phẩm hàng tiêu dùng như dầu gội đầu, kem đánh răng, bột giặt… thì tổng số nhận biết thương hiệu đóng vai trò quan trọng. Tiêu chí nhận biết đầu tiên luôn luôn quan trọng nhưng đối với những sản phẩm mà người ta quyết định tại điểm mua hay mua sắm mà không hoạch định trước thì chỉ số tổng độ nhận biết luôn được doanh nghiệp quan tâm hơn. Khi một người nội chợ đi siêu thị mua sắm trong tuần thì họ thường nghĩ là sẽ mua bột giặt nhưng họ thường không hoạch định sẽ mua omo hay tide nên khi đi siêu thị đến nơi trưng bày họ đều có thể quyết định mua bất kỳ thương hiệu nào mà họ biết.

Nếu tổng độ nhận biết thương hiệu lớn hơn 90% thì rất tốt và hầu như rất khó để nâng độ nhận biết lên 100%. Chính vì vậy, chi phí cho việc quảng bá thương hiệu khi hầu hết mọi người đã biết đến thương hiệu của mình thì không hiệu quả. Doanh nghiệp chỉ nên quảng bá thương hiệu một cách không thường xuyên nhằm duy trì mức độ nhận biết này.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #6  
Cũ 11-12-2012, 01:52 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

6. Ambient Advertising: Quảng cáo tại môi trường sống xung quanh

Ambient Advertising là một thuật ngữ trong ngành quảng cáo được sử dụng vào đầu những năm 1990 khi một số doanh nghiệp yêu cầu các đối tác quảng cáo của mình (Agency) hãy làm “một cái gì đó mới mẻ” cho họ.

Thay vì quảng cảo trên các phương tiện thông thường như billboard, báo chí, truyền hình, các đối tác quảng cáo đã bắt đầu đưa ra các ý tưởng độc đáo hơn quảng cáo trên các phương tiện “mới mẻ” hơn. Ambient Advertising có thể tạm được dịch là quảng cáo “quảng cáo tại môi trường sống xung quanh”.

Với chi phí quảng cáo qua các kênh truyền thông cổ điển này càng cao trong khi mức độ thu hút sự quan tâm của đối tượng truyền thông thì ngày càng giảm sút. Vì vậy, các nhà tiếp thị ngày càng “hứng thú” với quảng cáo ambient được ứng dụng phong phú trên nhiều phương tiện khác nhau. Ví dụ như trên xe hơi, xe đạp, taxi, xe buýt, tại cửa hàng, thang máy, công viên, trạm điện thoại, trung tâm mua sắm…

Mỗi khi các bạn phải suy nghĩ không biết mình nên sử dụng phương tiện quảng cáo nào cho hiệu quả thì Ambient Advertising có thể là một lựa chọn. Hãy làm cho mọi người phải “ngước nhìn” những ý tưởng quảng cáo đầy sáng tạo:
































Trả Lời Với Trích Dẫn
  #7  
Cũ 11-12-2012, 01:54 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

7. Brand Architecture: Kiến trúc thương hiệu

Kiến trúc thương hiệu là một cấu trúc nhằm tổ chức các thương hiệu nằm chung trong một danh mục với mục đích xác định rõ vai trò của từng thương hiệu, mói quan hệ giữa các thương hiệu, cũng như quan hệ giữa các thương hiệu trên thị trường sản phẩm.

Chẳng hạn hệ thống khách sạn Marriott có ít nhất bốn thương hiệu chính: Marriott Residence Inn, Mariott Hotels, Resort & Suites, Courtyard by Marriott, và Fairfield Inn by Marriott. Khi muốn xâm nhập thị trường khách sạn cao cấp, Marriott mua lại hệ thống khách sạn Ritz-Carlton nhưng thận trọng không gắn vào đó thương hiệu Marriott (vốn không định vị là hệ thống khách sạn sang trọng nhất) mà tiếp tục duy trì thương hiệu Ritz-Carlton. Courtyard by Marriott xuất hiện năm 1983 nhắm vào khách hàng chính là các thương nhân tại khu vực ngoại thành. Fairfield Inn xuất hiện năm 1987 nằm trong khi vực ngoại thành nhưng sát với các xa lộ lớn và tập trung vào đối tượng khách hàng là gia đình.



Vấn đề mấu chốt trong quản trị đa thương hiệu là làm thể nào để có thể tiếp cận các phân khúc thị trường mới, giới thiệu sản phẩm mới mà không chịu sự rủi ro và tốn kém khi phải tạo ra các thương hiệu mới. Nhưng đôi khi chiến lược kinh doanh đòi hỏi phải sử dụng các thương hiệu khác nhau cho các khúc thị trường khác nhau. Do đó, vấn đề quản trị đa thương hiệu được đặt ra cho các nhà quản lý. Theo giáo sư David A. Aaker, kiến trúc thương hiệu là công cụ được sử dụng để tạo ra tổng lực, sự phân vài minh bạch giữa các thương hiệu cụ thể, và tạo sức nâng cho thương hiệu.

Cụ thể hơn, kiến trúc thương hiệu là một cấu trúc nhằm tổ chức các thương hiệu nằm chung trong một danh mục với mục đích xác định rõ vai trò của từng thương hiệu, mói quan hệ giữa các thương hiệu (ví dụ quan hệ giữa Ford và thương hiệu xe Taurus), cũng như quan hệ giữa các thương hiệu trên thị trường sản phẩm (ví dụ quan hệ giữa Nike châu Âu và Nike Hoa Kỳ, Sony Theaters và Sony Television).
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #8  
Cũ 11-12-2012, 01:55 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

8. Marketing mix: Phối thức tiếp thị

Phối thức tiếp thị có lẽ là một trong những thuật ngữ thông dụng nhất trong lĩnh vực tiếp thị. Các thành phần của phối thức tiếp thị chính là yếu tố căn bản trong các bản kế hoạch tiếp thị.

Các thành phần trong phối thức 4P tiếp thị (marketing mix) bao gồm sản phẩm, giá, phân phối và truyền thông. Phối thức 4P này được sử dụng rộng rãi bởi các doanh nghiệp cho tiếp thị sản phẩm. Mô hình phối thức tiếp thị 4P giúp doanh nghiệp xác định các sản phẩm sẽ bán, định giá bán, chọn kênh bán hàng phù hợp và chọn các hình thức truyền thông quảng bán sản phẩm đến các đối tượng khách hàng mục tiêu khác nhau.

Giáo sư Neil Borden cửa Trường Kinh doanh Harvard đã đưa ra khái niệm phối thức tiếp thị khi nghiên cứu các hoạt động của công ty có thể ảnh hưởng đến người mua hàng. Chẳng hạn, một công ty dược có thể ảnh hưởng đến hành vi kê đơn của bác sĩ bằng cách gọi điện bán hàng hạ giá, cho không hàng mẫu, viết bài giới thiệu trên tạp chí chuyên ngành, đăng quảng cáo hay tài trợ cho các hội nghị y học. Borden cho rằng, tất cả các hoạt động này sẽ tạo ra một “phối thức tiếp thị” và doanh nghiệp cần phải có phương án làm sao phối hợp các yếu tố này để mang lại hiệu quả cao nhất với một chi phí chấp nhận được. Khái niệm “phối thức tiếp thị” đã ra đời với 4 thành phần chính sử dụng trong phối thức là: sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị.



Các thành phần trong phối thức tiếp thị thì cố định (sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị), tuy nhiên việc tạo ra một phối thức hiệu quả trong điều kiện đặc thù của một doanh nghiệp thì đòi hỏi kinh nghiệm và sự sáng tạo của người làm tiếp thị. Cũng giống như việc chúng ta có 7 nốt nhạc và mỗi nhạc sỹ có thể sáng tác rất nhiều bài hát khác nhau nhưng không có nhiều nhạc sỹ có thể mang đến những bài hát đi vào lòng người và được đông đảo công chúng mến mộ. Tương tự, trong phối thức tiếp thị chúng ta cũng có 4 thành phần chính là sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị, tuy nhiên không phải người làm tiếp thị nào cũng đưa ra được những phương án hay và phù hợp với doanh nghiệp. Điều này chính là điểm phân biệt giữa những nhà tiếp thị giỏi và người làm tiếp thị bình thường khác.

Với sự phát triển của tiếp thị, ngày nay phối thức tiếp thị chia ra làm 2 loại: (1) phối thức tiếp thị dành cho sản phẩm là 4P (sản phẩm, giá, phân phối và khuyến thị); (4) phối thức tiếp thị dành cho lĩnh vực dịch vụ là 7P.

Loại hình doanh nghiệp dịch vụ thì hoàn toàn khác với doanh nghiệp bán sản phẩm. Những điểm hoàn toàn khác biệt của dịch vụ bao gồm: tính vô hình, tính không đồng nhất, không thể tách rời được… Vì vậy, nguyên lý tiếp thị sử dụng cho sản phẩm không thể phù hợp hoàn toàn với dịch vụ, do đó marketing dịch vụ cần phải có mô hình phối thức tiếp thị riêng. Các loại hình doanh nghiệp dịch vụ rất đa dạng và bao trùm toàn bộ nền kinh tế như dịch vụ ngân hàng, dịch vụ phần mềm, nhà hàng, bệnh viện, giáo dục, du lịch, nghĩ dưỡng… Mô hình phối thức tiếp thị dịch vụ bao gồm 7P: Sản phẩm (product); Giá (price); Địa điểm (place); Truyền thông (promotion); Con người (People); Quy trình (process) và Môi trường dịch vụ (Physical Evidence). Trong 7P này thì 4P đầu xuất phát từ tiếp thị sản phẩm và 3P được mở rộng cho phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh dịch vụ.



Sản phẩm: là điểm cốt lõi trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu sản phẩm không tốt thì mọi nổ lực của các phối thức tiếp thị khác đều sẽ thất bại.

Giá: cách định giá của dịch vụ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ hài lòng của khác hàng. Thông thường giá cao sẽ tạo tâm lý hành long cao ở khách hàng vì mọi người đều nghĩ “tiền nào của nấy”.

Địa điểm: là một phần khác để tạo ra giá trị cho khách hàng. Không ai lại đi hàng chục cây số để đến một nhà hàng dùng bữa, vì vậy địa điểm phù hợp sẽ tạo sự tiện lợi và giúp khách hàng tiết kiệm được nhiều thời gian. Và một nguyên tắc đó là vị trí càng gần khách hàng thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.

Truyền thông: tạo sự nhận biết về dịch vụ cũng như cảm nhận ban đầu của khách hàng về các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Để đảm bảo sự nhất quán và gia tăng tính hiệu quả của truyền thông thì mọi thông điệp truyền tải cần phải bám sát với định vị thương hiệu.
Con người: là phần mấu chốt trong việc thực hiện dịch vụ. Nếu nhà hàng có những món ăn ngon mà người phục vụ quá kém thì cũng không tạo được sự hài lòng của khách hàng. Sự ân cần và tươi cười luôn được đánh giá cao bởi khách hàng.

Quy trình: là một phần quan trọng khác của chất lượng dịch vụ. Vì đặc tính của dịch vụ là trừu tượng vì vậy quy trình sẽ giúp đảm bảo chất lượng và nối kết giữa các công đoạn trong quy trình cung ứng dịch vụ. Ngoài ra quy trình dịch vụ còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng thời gian chờ đợi từ khách hàng và điều này tạo ra giá trị lớn, chẳng hạn một khách hàng không thể đời hàng chục phút để mua được phần thức ăn nhanh…

Môi trường dịch vụ: là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ là sự trừu tượng nên khách hàng thường phải tìm các yếu tố “hữu hình” khác để quy chuyển trong việc đánh giá. Ví dụ, khi một bệnh nhận tìm đến một nha sĩ thì yếu tố phòng khám sạch sẽ, trang nhã, yên tĩnh hay trên tường treo nhiều giấy chứng nhận, bằng khen, bằng cấp hay bài báo viết về vị nha sĩ này sẽ tạo ra một niềm tin rất lớn từ bệnh nhân.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #9  
Cũ 11-12-2012, 01:57 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

9. Franchise: Nhượng quyền thương hiệu

Franchise có nguồn gốc từ tiếng Pháp, “franc” có nghĩa là “free” (tự do). Franchise là một mô hình kinh doanh thành công và phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Franchise chính là mô hình nhân rộng thương hiệu hay mô hình kinh doanh.

Nhượng quyền thương hiệu là việc cho phép người khác được sử dụng thương hiệu hay bán các sản phẩm dịch vụ của mình. Bên nhượng quyền (Franchisor) và bên nhận nhượng quyền (Franchisee) sẽ ký kết một hợp đồng franchise, qua đó bên nhận nhượng quyền sẽ được sử dụng thương hiệu hay mô hình kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định và phải trả một mức phí cho việc nhượng quyền này.
Một mô hình kinh doanh tạo lợi ích cho các bên tham gia.

Với chủ thương hiệu (Bên nhượng quyền - franchisor) việc nhượng quyền thương hiệu sẽ đem lại 3 lợi ích chính: (1) mở rộng nhanh được mạng lưới bán hàng mà không cần đầu tư xây dựng hệ thống hay nguồn nhân lực, (2) gia tăng giá trị thương hiệu, (3) gia tăng doanh số và lợi nhuận từ nguồn thu chi phí nhượng quyền.

Với đơn vị được nhượng quyền (franchisee) sẽ có các lợi ích: (1) sở hữu cơ sở kinh doanh mà mô hình đã được ứng dụng thành công nên giảm thiểu rủi ro, (2) được sự hỗ trợ tư vấn của chủ thương hiệu về các vấn đề liên quan như sản phẩm, dịch vụ, cách quản lý, tiếp thị…, (3) được sử dụng thương hiệu đã có uy tín nên lượng khách hàng sẽ nhiều và ổn định hơn.

Nhượng quyền thương hiệu đang được ứng dụng rất thành công trong nhiều lĩnh vực kinh doanh từ quy mô nhỏ như trạm xăng, cửa hàng, quán ăn, nhà hàng… đến các loại hình kinh doanh đòi hỏi nguồn vốn lớn như khách sạn, bệnh viện…

Người nhượng quyền (Franchisor) sẽ nhận được 2 khoản phí từ người nhận quyền thương hiệu (Franchisee) là: (1) khoản phí của việc sử dụng thương hiệu; (2) khoản phí của việc đào tạo và tư vấn cho người nhận nhượng quyền. Đôi khi 2 loại phí này được gộp chung lại thành một khoản phí là “quản lý phí” được nêu rõ trong hợp đồng chuyển nhượng.

Việc cấp phép sử dụng thương hiệu thường được giới hạn trong một khoản thời gian và không gian địa lý nhất định. Thời gian thông thường là từ 5-30 năm, còn không gian địa lý thì có thể chỉ là một điểm hay nhiều điểm kinh doanh trong một hoặc vài vùng miền nào đó.
Dưới đây là chi phí nhượng quyền của các thương hiệu hàng đầu thế giới (tham khảo số liệu từ Wikipedia):

Subway (Sandwiches and Salads):
- Chi phí đầu tư ban đầu: $84.300-$258.300
- Số đối tác: 22.000 (trên toàn thế giới 2004)


Mc Donald’s (thức ăn nhanh)
- Chi phí đầu tư ban đầu: $995,900 – $1,842,700
- Số đối tác: 37.300 (trên toàn thế giới 2010)


7-Eleven (cửa hàng tiện lợi)
Chi phí đầu tư ban đầu: $40,500- 775,300
Số đối tác: 28.200 (trên toàn thế giới 2004)


Hampton Inns & Suites (khách sạn)
Chi phí đầu tư ban đầu: $3,716,000 – $15,148,800
Số đối tác: N/A


Great Clips (Tiệm tóc)
Chi phí đầu tư ban đầu: $109,000 - $203,000
Số đối tác: N/A
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #10  
Cũ 11-12-2012, 01:58 AM
BNN's Avatar
BNN BNN vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Hỏa Sơn
 
Tham gia ngày: Jun 2008
Đến từ: Đà Nẵng, Việt Nam
Bài gởi: 4,036
Cảm ơn: 4,160
Được cảm ơn 4,537/1,929 bài viết
BNN is on a distinguished road
Gửi tin nhắn qua Yahoo chát tới BNN
Mặc định Ðề: Thuật ngữ THƯƠNG HIỆU - Chuyên đề

10. USP – Unique Selling Point: Lợi điểm bán hàng độc nhất

USP – “Lợi điểm bán hàng độc nhất” chính là ưu thế bền vững của một thương hiệu hay sản phẩm được xác định ra nhằm tạo ra sự khác biệt với các thương hiệu hay sản phẩm cạnh tranh. Xác định USP(Unique Selling Point) là một công việc vô cùng quan trọng để tạo tiền đề cho sự thành công của một thương hiệu hay sản phẩm.

Một số doanh nghiệp thành công nhất trên thế giới đã ghi dấu ấn bằng cách xây dựng cho mình những hình ảnh hoặc tính cách mang tính độc đáo nhất. FedEx đặt mình trên bản đồ những hãng chuyển phát nhanh lớn nhất thế giới nhờ bảo đảm rằng các gói đồ sẽ được chuyển tới địa điểm nhận ngay trong đêm. Hay hãng Pizza Domino đã từng cam kết sẽ giao bánh Pizza trong chưa đầy 30 phút. Còn Burger King để bạn "có nó theo cách của bạn"...

Với lĩnh vực xe hơi thì các thương hiệu lớn đều có những “USP – Lợi điểm bán hàng độc nhất” của mình. Ví dụ, khi nói đến xe bền tiết kiệm nguyên liệu thì bạn sẽ nghĩ ngay đến Toyota, hoặc Volvo thì được định vị là xe có độ an toàn cao, BMW là xe sang cho cảm lái thật nhất hay Mercedes là xe sang, tiện nghi dành cho doanh nhân.



Lợi thế bán hàng duy nhất sẽ giúp thương hiệu nổi bật trong đám đông những thương hiệu khác. Xác định được “lợi thế bán hàng độc nhất” là một trong những điểm căn bản nhất để tạo dựng thương hiệu hay tiếp thị một sản phẩm. Mỗi khi bạn xem một quảng cáo hay một thông tin về sản phẩm mới, có lẽ câu hỏi đầu tiên bạn nghĩ đến là “liệu sản phẩm này có gì khác biệt?”, điểm khác biệt chính là USP của một sản phẩm. Nếu một sản phẩm không có điểm khác biệt USP hoặc không được truyền thông hiệu quả thì sẽ trở thành sản phẩm “me too” và khả năng thành công trên thị trường sẽ thấp hơn nhiều.

Dưới đây là một số câu hỏi để bạn xác định liệu lợi điểm của doanh nghiệp bạn có phải là “lợi thế bán hàng độc nhất” hay không?

1. Lợi thế bán hàng của bạn có độc nhất vô nhị hay không?

2. Nếu có thì theo cách nào?

3. Bạn có thể chứng minh nó một cách rõ ràng không? Bạn có những lý do hỗ trợ để thuyết phục khách hàng cho USP này.

4. Nếu bạn không độc nhất vô nhị, bạn có làm tốt hơn đối thủ cạnh tranh của mình không? Và nếu có, chính xác là điều gì khiến cho bạn tốt hơn?

5. Bạn có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thật dễ hiểu điều khiến cho bạn tốt hơn hay khác biệt không?

6. Bạn có mang lại chất lượng—tương ứng với một mức giá nào đó hoặc bất chấp giá cả?

7. Bạn có mang lại giá trị bền vững? USP cần là một lợi thế bền vững chứ không đơn thuần là lợi thế dễ dàng mất đi trong tương lai.

8. Nếu bạn tin rằng bạn mang lại giá trị, bạn có thể diễn tả nó trong giới hạn 20 từ, nêu rõ điều gì là lợi ích không thể nghi ngờ mà bạn mang lại với mức giá cả hợp lý cho các khách hàng hài hòng?
Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời

Chia sẻ chủ đề này đến các mạng Xã hội

Nhãn
đà nẵng, bản quyền, brands, iso, logo, mã vạch, nhãn hiệu, nhãn hiệu độc quyền, sáng chế, thương hiệu, thương hiệu đà nẵng, thương hiệu độc quyền


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài


DU LỊCH ĐÀ NẴNG DNG ForumDU LỊCH ĐÀ NẴNG
Tel: 0236.3707404 - Hotline: 0915.888404
DA NANG TRAVEL © DNG Forums - Managed by DNG BusinessDA NANG TRAVEL
DỊCH VỤ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP | DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY | THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG | THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI ĐÀ NẴNG
Liên Lạc - DaNangNet - Lưu Trữ - Lên Trên